Trung Quốc đã gây ra Covid-19 trên toàn cầu và chúng ta có thể bắt Trung Quốc chịu trách nhiệm về việc đó hay không? Bài phân tích rất hay của hai tác giả Paul Driessen và Ned Mamula (*) trên trang Townhall.

Nhân viên y tế đã đeo thiết bị bảo vệ trước khi đến bệnh viện Chữ thập đỏ ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc vào ngày 16/3/2020 – Ảnh : Bangkok Post

Sự im lặng và dối trá của Trung Quốc khiến đại dịch Covid-19 lây lan toàn cầu, làm tê liệt nền kinh tế thế giới

Sự thật là vào đầu tháng 1/2020 (nếu không phải vào tháng 12/2019 hoặc sớm hơn) Trung Quốc đã đối phó với một căn bệnh hiểm nghèo, lây lan nhanh ở Vũ Hán, một thành phố có nhiều người hơn cả Chicago và thành phố New York cộng lại. Nhưng trước tiên quốc gia này đã không lên tiếng về sự việc này. Sau đó, quốc gia này nói dối nhiều lần, trục xuất các ký giả ngoại quốc, và đe dọa, bịt miệng hoặc giết chết các bác sĩ Vũ Hán đã cố gắng báo động cho mọi người biết về sự nguy hiểm chết người của căn bệnh.

Trung Quốc đã sử dụng ảnh hưởng của mình với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhằm đưa ra những tuyên bố sai lầm về nguồn gốc của vi rút Vũ Hán (có thể đến từ phòng thí nghiệm hoặc chợ ngoài trời trong thành phố) và không có sự lây truyền từ người sang người. Trung Quốc thậm chí còn tuyên bố quân nhân Hoa Kỳ đã mang vi rút đến Vũ Hán trong một giải đấu thể thao quân sự vào tháng 10/2019. Quốc gia này đóng cửa du lịch nội địa ở Vũ Hán, phong toả thành phố, nhưng lại cho phép hàng triệu người từ Vũ Hán đi du lịch đến Âu châu, Hoa Kỳ, Phi châu và châu Mỹ Latinh.

Đến ngày 1/7, vi rút Vũ Hán đã làm 11 triệu người mắc bệnh trên toàn cầu và giết chết nửa triệu người, với 2,7 triệu người mắc bệnh và 130,000 người chết chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Vi rút gây ra thiệt hại kinh tế hàng nghìn tỷ đô la, khi thế giới ban hành lệnh ở nhà, đóng cửa thương mại toàn cầu và khiến hàng trăm triệu người thất nghiệp. Giữa đại dịch, Trung Quốc đã vận chuyển mặt nạ phòng hơi độc bị lỗi tặng cho một số nước, tham gia tích trữ và kiểm soát giá cả vật tư y tế, và mở rộng chiến dịch của mình nhằm đổ lỗi cho các quốc gia khác về thảm họa.

Một nghiên cứu của trường đại học Southampton đã kết luận rằng, nếu Trung Quốc trung thực và minh bạch, ra lệnh cấm người Vũ Hán đi du lịch ngoại quốc trước khi đại dịch bùng phát 3 tuần trước đó, thì việc lây lan Covid-19 trên toàn cầu có thể đã giảm 95% và hàng trăm ngàn người đã không bị chết, nền kinh tế thế giới cũng đã không bị tê liệt. Hậu quả này cũng có sự góp phần của WHO, khi WHO từ chối tuyên bố Covid-19 hay viêm phổi Vũ Hán là đại dịch toàn cầu, mãi cho đến ngày 11/3.

Hành vi thái quá của Trung Quốc không có gì mới. Các công ty muốn bán sản phẩm ở Trung Quốc đã bị buộc phải xây dựng các nhà máy ở đây với cam kết hoạt động lâu dài và chia sẻ bí mật công nghệ và sản xuất của họ, để tạo điều kiện cho các sinh viên, người dọ thám và tin tặc Trung Quốc đánh cắp một cách có hệ thống các tài sản trí tuệ và bí mật thương mại khác. Nhìn xem cách quốc gia này đối xử với Hồng Kông, Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ, đó là cách xử sự hai mặt và vô đạo đức.

Nhiều quốc gia đòi hỏi Trung Quốc phải chịu trách nhiệm, bị trừng phạt và đưa ra các khoản tiền đòi bồi thường. Công lý chắc chắn đòi hỏi điều đó. Trong một thế giới hoàn hảo hơn, điều đó có thể xảy ra. Tuy nhiên, bảo đảm một bản án về bồi thường được thực thi thì rất đáng nghi ngờ.

Trung Quốc trở thành siêu cường nhờ Hoa Kỳ và Hoa Kỳ gần như hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc

Vị thế của Trung Quốc với tư cách là một siêu cường kinh tế và quân sự toàn cầu được tăng cường bằng các vị trí trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (LHQ), trong Tổ chức Thương mại Thế giới và Hội đồng Nhân quyền LHQ (cùng với Iran, Bắc Hàn và các quốc gia “đạo đức” khác). Các hoạt động cho vay có mục đích của quốc gia này khiến Trung Quốc trở thành một quốc gia có vẻ đáng tin cậy hơn, mặc dù các điều kiện làm việc trong hầm mỏ, nhà máy và công trường xây dựng của Trung Quốc cho thấy chính quyền ở đây không mấy quan tâm đến sức khỏe của người lao động hay các quyền cơ bản. Thật vậy, quốc gia này đòi hỏi chúng ta bỏ qua các vấn đề nhân quyền.

Một sự thật là Trung Quốc đang kiểm soát nhiều chuỗi cung ứng quan trọng trên thị trường kinh tế thế giới. Trung Quốc không chỉ sản xuất các loại thuốc của Hoa Kỳ như heparin, vắc-xin và penicillin, mà còn giữ độc quyền sản xuất các hoạt chất dùng để sản xuất nhiều loại thuốc thiết yếu khác. Do đó, các công ty Trung Quốc kiểm soát 70% acetaminophen và tới 95% kháng sinh và hydrocortison. Năm 2008, heparin bị ô nhiễm từ Trung Quốc đã khiến 81 công dân Hoa Kỳ tử vong. Phần lớn các thiết bị y tế cơ bản và công nghệ cao của Hoa Kỳ (mặt nạ phòng hơi độc, khẩu trang phẫu thuật, áo choàng bảo hộ và thiết bị quét MRI và CT) cũng được nhập cảng từ Trung Quốc.

Hoa Kỳ cũng phụ thuộc vào Trung Quốc về kim loại và khoáng sản trong ngành năng lượng, hàng không vũ trụ, quốc phòng, viễn thông và các ngành công nghiệp khác. Ông Joe Biden, Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ, thành viên đảng Dân chủ và các nhóm bảo vệ môi sinh sẽ chuyển các hệ thống năng lượng, sản xuất, quốc phòng, sinh kế và mức sống sang Trung Quốc một cách hiệu quả, dưới chiêu bài “bảo vệ môi sinh cho Hoa Kỳ”.

Chip máy tính của Trung Quốc có trong vô số sản phẩm được sử dụng ở Hoa Kỳ và vi rút horse Trojan hoặc backdoors cho tin tặc có thể cho phép đánh cắp thông tin liên tục, chiếm lấy hệ thống định vị toàn cầu hoặc làm sập lưới điện. Khoáng sản, kim loại và các thành phần thiết yếu cho máy bay, thiết bị nhìn đêm, máy tính, tua-bin gió, pin mặt trời, pin sạc, xe điện và các công nghệ khác đều có nguồn gốc sản xuất trực tiếp từ Trung Quốc hoặc thông qua các công ty Trung Quốc thực hiện các hoạt động khai thác khủng khiếp ở Phi châu, Á châu và châu Mỹ Latinh. Việc cung cấp vật liệu hoặc các sản phẩm này có thể dễ dàng bị hạn chế hoặc cắt đứt giữa cuộc chiến tranh thương mại hoặc các xung đột khác.

Thật đáng kinh ngạc, Hoa kỳ có gần như tất cả các kim loại và khoáng chất cần thiết để sản xuất các sản phẩm này và nhiều sản phẩm khác. Tuy nhiên, vì sự phản đối không ngừng của phe bảo vệ môi sinh và đảng Dân Chủ đối với hoạt động thăm dò và khai thác, vùng đất liên bang giàu khoáng sản (trị giá nhiều nghìn tỷ đô la) của quốc gia vẫn bị giới hạn và không phát triển, buộc Hoa Kỳ phải nhập cảng phần lớn nguyên liệu thô cần thiết.

Trên thực tế, Hoa Kỳ không phụ thuộc 100% vào nhập cảng đối với 35 khoáng chất và kim loại quan trọng cần thiết cho quốc phòng, hàng không vũ trụ, giao thông vận tải, truyền thông, công nghệ chăm sóc và năng lượng tái tạo – bao gồm 15 nguyên tố đất hiếm khác nhau (Rare Earth Elements/REE). Nhưng có ít nhất 25 trong số đó đến từ Hoa Lục. Nửa tá khác đến từ Nga. Không có khoáng chất và kim loại nào là tái tạo, sạch, xanh, rẻ hoặc bền vững.

Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ nhập cảng gần hai phần ba khoáng sản và kim loại quan trọng của mình từ các đối thủ và kẻ thù! Thật đáng ngạc nhiên, mặc dù Hoa Kỳ đã từng dẫn đầu thế giới trong việc sản xuất các sản phẩm của REE. Trung Quốc hiện sản xuất 95% kim loại đất hiếm của thế giới, đau nhất là Trung Quốc sử dụng các công nghệ mà Hoa Kỳ đã cung cấp cho họ miễn phí!

Các tấm pin mặt trời màng mỏng đòi hỏi nguyên tố Indium và Tellurium, để chuyển đổi các tia mặt trời thành điện. Làm các tấm pin mặt trời cũng đòi hỏi chì, cadmium, đồng, gallium, bạc, polyvinyl fluoride, và các vật liệu và hóa chất khác. Chỉ cần xây dựng 500 dặm vuông của tấm pin mặt trời thì công ty Dominion Energy Virginia đang có kế hoạch cần 5,000,000 pound cadmium và một lượng lớn các vật liệu khác.

Một tuabin gió 2 megawatt duy nhất cần khoảng 3,5 tấn đồng để tạo ra và truyền tải điện – cộng với 900 tấn thép, 2,500 tấn bê tông, 45 tấn vật liệu nhựa không thể tái chế, vài tấn nguyên tố đất hiếm và nhiều tấn mangan, coban, nhôm và các kim loại và khoáng chất khác.

Nam châm trong động cơ xe điện-khí hybrid đòi hỏi dysprosium và neodymium, trong khi một bộ pin sạc Tesla 100 tiếng đồng hồ duy nhất (đối với xe chạy bằng điện và hệ thống điện dự phòng) cần 140 pound lithium, một lượng lớn coban, niken, than chì, nhôm và đồng, và một lượng nhỏ hơn mangan và kim loại đất hiếm. Nhu cầu các nguyên tố trên tăng lên không ngừng.

Làm phép tính nhân các yêu cầu này với hàng chục ngàn tuabin gió ngoài khơi, hàng triệu tuabin trên bờ, hàng tỷ tấm pin mặt trời và hàng tỷ gói pin 1,200 pound theo tiêu chuẩn của Thỏa thuận Mới Xanh (Green New Deal) thì sẽ không thể tưởng tượng được sự khai thác nguyên liệu thô gia tăng trên toàn cầu khủng khiếp thế nào. Việc khai thác cũng sẽ mang lại những tác động sinh thái không mong muốn cho trái đất, vi phạm nhân quyền khi sử dụng lao động trẻ em trên toàn cầu.

Máy biến thế, hệ thống điều khiển lưới điện thông minh, xe điện và hàng ngàn dặm của đường dây tải điện bổ sung theo Thoả thuận Mới Xanh sẽ đòi hỏi nhiều nguyên liệu hơn. Các nền văn minh hiện đại cũng cần nhiều kim loại khác: arsenic cho thông tin liên lạc lò vi sóng; fluorspar cho sản xuất nhôm và thép; chế biến uranium, gallium cho đèn LED và điện thoại di động; than chì cho pin sạc; scandium cho hợp kim nhẹ và pin nhiên liệu; bismuth cho dược phẩm và chất hàn không chì; antimony cho pin axit chì và chất chống cháy; và vô số loại khác.

Một điều được lặp đi lặp lại là: Hầu hết mọi nguyên liệu thiết yếu này đều có thể được khai thác và sản xuất hoàn thiện trong nước. Nhưng thay vào đó, nhiều sản phẩm được nhập cảng 100%, chủ yếu từ Trung Quốc. Nhiều người Hoa Kỳ có thái độ coi thường việc khai thác và sản xuất thì có nghĩa là nguồn năng lượng của Hoa Kỳ; việc làm, mức sống, sức khỏe và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ sẽ gần như hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc, Nga và các quốc gia không đáng tin cậy.

Một điều chắc chắn là không giống như các công nghệ và tài sản trí tuệ của Hoa Kỳ liên tục có nguy cơ bị Trung Quốc đánh cắp thì các chính sách tài nguyên khoáng sản của Hoa Kỳ ít bị Trung Quốc sao chép, ít bị đánh cắp hơn! Và người Trung Quốc chắc chắn không quan tâm đến việc sao chép cách chúng ta kiểm soát ô nhiễm; cách chúng ta khai thác đất, bảo vệ động vật hoang dã, tạo môi trường an toàn tại nơi làm việc, bảo đảm công bằng trong chi trả lương, không sử dụng lao động trẻ em hoặc luật nhân quyền.

Đáng buồn thay, thực tế này không xứng đáng với những tính toán và cân nhắc từ những người đề xuất Thoả thuận Mới Xanh.

(*) Paul Driessen là nhà phân tích chính sách nhiều kinh nghiệm của Ủy ban vì một ngày mai xây dựng (www.CFACT.org) và là tác giả của các cuốn sách và bài viết về các vấn đề năng lượng, môi trường, khí hậu và nhân quyền. Tiến sĩ Ned Mamula là một nhà địa chất và cựu chuyên gia tài nguyên khoáng sản của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. Ông là tác giả của cuốn sách Groundbreaking! America’s New Quest for Mineral Independence.

Bình Nguyễn dịch

Theo TownHall